13 Jul 2017

Cách diệt kiến gió, kiến lửa và kiến ba khoang cho mọi nhà

Những mẹo diệt kiến dưới đây sẽ giúp cho các bạn loại bỏ những loại kiến đáng ghét này ra khỏi ngôi nhà và bảo vệ cho sức khỏe mọi người đấy.

Kiến là một loài sinh vật xuất hiện rất nhiều trong căn nhà của chúng ta. Tuy có loài kiến vô hại chỉ bò lên quần áo, đồ ăn nhưng cũng có loài kiến có thể khiến con người bị dị ứng, sưng phù, thậm chí là tử vong. Chính vì thế, các bạn phải chú tâm thực hiện diệt loài kiến thường xuyên để tránh những trường hợp như trên. Bài viết sau đây sẽ giúp cho bạn cách diệt một số loài kiến như kiến gió, kiến lửa và kiến ba khoang.

loai kien 12

Cách diệt trừ kiến gió trong căn nhà

Kiến gió là một loài kiến hay xuất hiện và gây phiền phức, bực bội đối với con người. Tuy nhiên, loài kiến này cũng khá vô hại và rất dễ dàng để tiêu diệt.

Để bảo vệ đồ ăn khỏi loại kiến này, bạn có thể dùng phấn viết bảng, các loại bột gia vị như bột ớt, bột tỏi, bột tiêu,… và rắc xung quanh để kiến không dám xông phạm tới.

Các bạn hãy pha bột baking soda chung hoặc khoai tây cùng với đường hoặc sữa để bẫy kiến. Lũ kiến sẽ bị hấp dẫn bởi mồi nhủ này và nếu chúng ăn phải, chúng sẽ chết ngay không lâu sau đó do bị trương phình. Các bạn cũng có thể dùng nước sôi, xăng dầu và đổ vào tổ kiến để diệt chúng tận ổ.

Cách diệt trừ kiến lửa trong căn nhà

Kiến lửa là loài kiến có màu đỏ rực, rất hay bò lên người hoặc vật nuôi và tạo ra những vết đốt rất ngứa ngáy, khó chịu.

Đối với kiến lửa, các bạn cũng có thể áp dụng những cách diệt trừ kiến gió ở trên. Ngoài ra, các bạn cũng có thể sử dụng chậu hoa để tiêu diệt kiến. Bạn chỉ cần tìm những ổ kiến lửa trong nhà và lấy một chậu hoa hoặc cây cảnh úp lên trên đó. Sau đó, các bạn từ từ đổ nước vào trong, nước sẽ theo những lỗ thoát nước dưới đáy chậu và len lỏi vào tổ kiến. Bọn chúng sẽ không thể sinh sống và ảnh hưởng đến bạn nữa.

Cách loại trừ kiến ba khoang trong căn nhà

Trong 3 loài kiến kể trên thì kiến ba khoang là loại kiến nguy hiểm nhất vì chúng có thể khiến da chúng ta bị sung phù rất nguy hiểm.

Nếu các bạn thấy kiến ba khoang ở trên người thì hãy thổi chúng đi chứ không được dùng tay để chà xát, gạt hoặc đập kiến để không cho da tiếp xúc với nọc độc của loại kiến này. Ngoài ra, nếu thấy nhiều kiến bâu thì các bạn nên dùng găng tay, vỉ đập để gom chúng lại, hốt bỏ vào túi nylon và mang đi tiêu hủy hoàn toàn để đảm bảo.

Kiến ba khoang thường rất khó diệt như những loại kiến thông thường. Nghĩa là bạn không thể dùng thuốc xịt côn trùng  để loại bỏ chúng được mà hãy dùng các loại thuốc chuyên dụng.

Vì thế, để hạn chế kiến ba khoang xuất hiện vào thời tiết nóng ẩm hoặc mùa mưa, các bạn nên thường xuyên vệ sinh nhà cửa, nhờ những đơn vị diệt kiến chuyên nghiệp tại PestCARE để có thể loại trừ loại kiến nguy hiểm này trong căn nhà của mình

Chúc các bạn áp dụng thành công những bí quyết tuyệt vời trên đấy nhé!

CÔNG TY DIỆT KIẾN HÀ NỘI

 

Share this
29 Aug 2016

Sự thật phi thường về loài Kiến

Kiến được xem là loài vật chăm chỉ, cần cù nhất trong giới tự nhiên, Chúng dành phần lớn thời gian trong cuộc đời để tìm kiếm thức ăn và mang thức ăn về tổ. Ở bất kì thời điểm nào trên Trái Đất cũng hiện hữu khoảng 10 triệu tỷ cá thể Kiến.

1. Loài Kiến hầu như không có tai, chúng cảm nhận âm thanh từ rung động mặt đất, thông qua bộ cảm biến nhạy cảm trên các chân của nó.

2. Nhiều học giả cho rằng, tổ tiên của loài kiến đã từng sống cùng thời với khủng long. Một số ý kiến khác lại cho rằng, tổ tiên của loài Kiến đã tiến hóa thành loài Kiến hiện đại như ngày nay vào thời kỳ giữa kỷ Phấn Trắng, cách nay từ 110 đến 130 triệu năm trước.

3. NASA đã phát minh ra một thùng dụng cụ nuôi Kiến đặc biệt gọi là Antquarium. Kiến được cho vào đó và cùng các phi hành gia bay vào không gian. Đây là một dự án nghiên cứu sự thích nghi của động thực vật trong không gian. Và Kiến cũng là một trong những sinh vật đầu tiên trên Trái Đất được ra ngoài vũ trụ.

4. Kiến Chúa có thể sống thọ đến 30 năm, lâu hơn các loài côn trùng khác có kích thước tương tự gấp 200 lần. Còn các con Kiến thợ thông thường chỉ có thể sống khoảng từ 1 đến 2 năm.

5. Kiến có mối quan hệ khắng khít và khá “tình thương mến thương” với loài Mối và Gián.

6. Kiến là loài vật rất chăm chỉ, nhất là những chú Kiến thợ, hầu như trong suốt cuộc đời chúng chỉ đi tìm kiếm thức ăn và mang vác chiến lợi phẩm về tổ dự trữ.

7. Loài Kiến Jack Jumper rất nguy hiểm, cú đốt của chúng có nộc độc gây chết người. Hiện tại, vẫn chưa có thuốc giải độc.

8. Loài “Kiến Đạn” lại có những vết cắn gây đau đớn nhất trong những loài Kiến. Vết cắn sẽ sưng tấy và đau đớn suốt 24 giờ.

9. Kiến có thị lực khá kém, chúng thường sử dụng từ trường của Trái Đất để định hướng đường đi.

10. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh, Kiến là loài côn trùng thông minh nhất, chúng có hơn 250.000 tế bào não trong cái đầu bé nhỏ của mình.

11. Kiến sống theo những đàn khổng lồ và sống “du canh du cư”, chúng chỉ sống ở một nơi trong thời gian ngắn, sau đó sẽ “gói gém” thức ăn, trứng, ấu trùng Kiến non cùng “Bà Hoàng” Kiến Chúa di chuyển sang một nơi khác.

12. Nếu Kiến có kích thước tương đương với con người, thì chúng chắc chắn sẽ là vận động viên điền kinh cừ khôi, với vận tốc chạy trung bình 55 km/h, đặc biệt không bao giờ bị mệt.

13. Kiến có sức mạnh phi thường, chúng có thể nâng một vật có trọng lượng gấp 5000 lần cơ thể nó.

14. Mỗi đàn kiến có mùi đặc trưng của riêng mình. Vì vậy, những kẻ xâm nhập bất hợp pháp ngay lập tức sẽ bị tiêu diệt.

15. Hiện con người đã phát hiện ra hơn 12.000 loài Kiến trên Trái Đất, chúng được phân biệt dựa trên hình dạng, màu sắc và kích thước.

16. Kiến sống rất đoàn kết, chúng có thể hợp sức để dễ dàng hạ gục con mồi to lớn hơn gấp nhiều lần so với chúng, nếu không ăn thịt thì Kiến sẽ bắt con vật đó làm nô lệ.

17. Một tổ Kiến có thể dao động từ vài chục đến hàng nghìn tỷ cá thể.

18. Kiến đã có mặt ở hầu hết các vùng đất trên hành tinh, trừ Bắc Cực, Nam Cực và một số vùng hải đảo.

19. Tại một số nơi trên thế giới, đặc biệt là Mexico, Kiến và ấu trùng của nó được xem là một món ăn ngon, thậm chí là một đặc sản. Kiến và ấu trùng khi được chế biến thành món ăn được bán ra với giá 80 USD/kg.

20. Ít có địa hình khó khăn nào có thể cản chân được loài Kiến, chúng có thể liên kết lại để tạo thành những chiếc cầu vững chắc cho đồng đội đi qua.

21. Ở bất kì thời điểm nào trên Trái Đất cũng hiện hữu khoảng 10.000.000.000.000.000 (10 triệu tỉ) cá thể Kiến sinh sống, dù cho hàng ngày, hàng giờ con người đã giết không ít những con Kiến. Ước tính loài Kiến chiếm khoảng 15-20% tổng số cá thể động vật sống trên cạn.

CÔNG TY DIỆT KIẾN THÔNG TÍN

Share this
29 Aug 2016

Sự thật về loài kiến

Kiến có mặt ở hầu như bất cứ nơi nào bạn sống, trong đó một số loài kiến rất độc đáo và có thể cung cấp những cái nhìn sâu sắc về một loạt các chủ đề từ hành vi xã hội đến mô hình giao thông. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những thông tin thú vị về loài sinh vật bé nhỏ này.

1. Số đàn kiến lớn hơn số lượng trung bình các tổ kiến .

Các đàn kiến có vô vàn các hình dạng và kích cỡ. Một số loài sống trong các đàn chỉ vài chục con, tuy nhiên, một đàn kiến trung bình thường có hàng ngàn con kiến . Các đàn kiến nhỏ thường sống trong các đường nứt tự nhiên hoặc khe hở trong khi những đàn kiến lớn tạo ra tổ rất rộng và chúng thường lục lọi, tìm kiếm các nguồn cung cấp thức ăn. Ngoài ra còn có siêu tổ kiến trên khắp thế giới có thể chứa hơn 300 triệu cá thể. Người ta đã tìm thấy các siêu tổ kiến ở Nhật Bản, Úc, Hoa Kỳ, và Nam Âu.

2. Kiến có công việc cụ thể.

Kiến là loài côn trùng rất xã hội, và chúng phân chia công việc tùy theo mỗi loại kiến khác nhau trong đàn. Kiến chúa chỉ có một công việc duy nhất – đẻ trứng. Tất cả các kiến cái khác là kiến thợ, có nhiệm vụ nuôi ấu trùng, đưa các loại rác ra khỏi tổ, tìm kiếm thức ăn, hoặc bảo vệ tổ. Những con kiến đực chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là giao phối với kiến chúa.

3. Kiến không có tai.

Thay vì nghe thông qua các kênh thính giác, kiến “nghe” bằng cách cảm nhận các rung động trong lòng đất. Những cảm biến đặc biệt trên chân và trên đầu gối giúp kiến giải mã các tín hiệu từ môi trường xung quanh. Chúng cũng sử dụng râu và lông trên cơ thể để cảm nhận xung quanh trong lúc tìm kiếm thức ăn.

4. Có loài kiến chỉ toàn kiến cái.

Các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy một con kiến đực nào của loài kiến M. smithii. Kiến chúa có thể sinh sản vô tính, vì vậy tất cả những con kiến cái là bản sao của kiến chúa. Loài này được tìm thấy ở một số nước Trung Mỹ và hầu hết các nước Nam Mỹ.

5. Chúng có thể trở thành các thây ma dở sống dở chết.

Có một vài loại nấm kí sinh trên kiến và kiểm soát cơ thể chúng. Những loại nấm này tìm cách xâm nhập bên dưới bộ xương ngoài của kiến và bắt đầu làm chết dần các mô mềm. Ngay sau đó, bằng một cơ chế không rõ, nó làm cho kiến rời khỏi đàn. Con kiến sau đó tìm thấy một cái lá, cắn chặt nó một cách tuyệt vọng và chết. Một vài ngày sau, các loại nấm sinh ra các bào tử lây nhiễm cho nhiều con kiến hơn. Một số loài kiến đã học được cách để nhận ra bạn tình trong đàn bị nhiễm và sẽ mang chúng đi xa để bảo vệ đàn kiến..

6. Chúng có thể nâng một trọng lượng gấp 10 đến 50 lần trọng lượng cơ thể của chúng.

Bởi vì kiến rất nhỏ, cơ bắp của chúng tương đối dày hơn trọng lượng cơ thể của chúng so với động vật lớn hơn. Điều này cho phép kiến có thể mang vác các vật nặng hơn và lớn hơn cơ thể chúng . Hãy hình dung nếu con người cũng có khả năng nâng một vật nặng gấp 10 lần trọng lượng cơ thể của họ như vậy thì một người đàn ông nặng khoảng 90 kg có thể nâng một chiếc xe hơi cỡ nhỏ trên đầu.

7. Một số loài kiến bị vô gia cư.

Không phải tất cả các loài kiến đều xây dựng tổ. Một nhóm khoảng 200 loài được biết đến như là kiến quân đội có hai giai đoạn phát triển trong đời sống của chúng: du mục và ổn định. Trong giai đoạn du mục , những con kiến di chuyển cả ngày, tấn công các tổ kiến khác và côn trùng mà chúng gặp trên đường để làm thức ăn. Khi đêm xuống, chúng xây dựng một tổ tạm thời và tiếp tục di chuyển vào sáng hôm sau. Thời gian duy nhất chúng ngừng di chuyển là trong giai đoạn ổn định khi kiến chúa đẻ trứng và chúng dừng lại để chờ cho trứng nở. Trong thời gian này, các kiến thợ xây dựng lên một cái tổ để bảo vệ kiến chúa, thức ăn, và những quả trứng.

8. Kiến được tìm thấy gần như ở khắp mọi nơi trên trái đất.

Kiến được tìm thấy trên khắp các lục địa trên trái đất trừ châu Nam Cực. Một vài đảo như đảo Greenland lại không có bất kỳ loài kiến bản địa nào, nhưng những con kiến đã được đưa đến thông qua hoạt động du lịch của con người. Sự phân bố rộng khắp của kiến được so với đối thủ duy nhất là con người. Thật ấn tượng với một sinh vật bé nhỏ như vậy!

Mặc dù kiến có thể có một vài đặc điểm thú vị, kiểm soát và quản lý kiến xung quanh nhà là quan trọng vì lý do sức khỏe và an toàn. Nếu bạn nghi ngờ bị lây nhiễm kiến, hãy tìm đến sự giúp đỡ của một nhà kiểm soát côn trùng chuyên nghiệp.

Share this
29 Aug 2016

Sơ lược về loài kiến

Sơ lược về loài kiến

Ðời sống loài kiến
Kiến, loài côn trùng sống hầu như ở khắp mọi nơi trên trái đất, trừ vùng băng giá và đại dương. Chúng sống thành bầy đàn, phân chia nhiệm vụ rõ ràng, có tôn ti trật tự, biết bảo vệ lẫn nhau và cũng đi xâm lăng, cướp bóc, bắt nô lệ, chăn nuôi sâu bọ lấy “sữa”… Số lượng bầy kiến có thể từ vài chục cho đến hàng ngàn con… nhưng đứng đầu luôn là kiến chúa, còn lại hầu như là các nữ kiến thợ với những nhiệm vụ như tìm kiếm thực ăn, nuôi nấng kiến con và đánh nhau khi có chiến tranh. Có rất ít kiến đực và chúng chỉ xuất hiện trong một thời gian ngắn với phận sự duy nhất là giao phối với kiến chúa để duy trì nòi giống, sau đó chết đi. Như vậy, có thể nói tổ kiến toàn là các nữ kiến!

Có trên 10 ngàn loài kiến. Hầu hết chúng có màu đen, nâu hoặc màu đất. Một vài loài có màu vàng, xanh lục, xanh dương hay tím. Có loài to đến 2.5 cm nhưng cũng có loài nhỏ cỡ 0.1 cm. Thông thường, đa số các loài kiến đều thuộc loại nhỏ. Mặc dù nhỏ bé nhưng kiến có thể khiêng một vật nặng hơn nó gấp 10 lần, có loài khoẻ đến độ khiêng vật nặng gấp 50 lần so với trọng lượng của chính nó, giả sử con người cũng có khả năng như vậy thì với trọng lượng 60 kg, người ta có thể khiêng một vật nặng đến 3 tấn!

Kiến sống nhiều nhất ở các vùng nhiệt đới. Chúng đào đường hầm làm tổ dưới đất, đùn đất lên trên xây tổ, hay làm tổ ở những bọng và lá cây. Có loài vô gia cư như kiến lê dương nay đây mai đó. Kiến lê dương đi cả đàn như đoàn quân Mông Cổ thời Thành Cát Tư Hãn. Chúng tàn sát và ăn thịt những con côn trùng nào vô phúc gặp chúng trên đường. Có loài kiến chuyên xâm lược những tổ kiến khác, cướp đoạt trứng kiến để bắt làm nô lệ khi lớn lên. Có loài kiến chuyên đi thu hoạch hạt cây về cất trong tổ như nhà nông. Có loài chăn những con bọ để lấy dịch đường như nhà nông nuôi bò lấy sữa.

Theo các nhà khoa học thì kiến tiến hóa từ ong bắp cày (wasp) cách đây khoảng 100 triệu năm bởi vì cấu tạo của chúng rất giống nhau. Ðiểm khác biệt ở chỗ kiến có một nốt tròn chuyển tiếp giữa ngực và bụng hay còn gọi là eo. Kiến chúa là loại to nhất, sau đó là kiến đực và nhỏ nhất là kiến thợ.

[IMG]
Cấu tạo cơ thể của kiến.

Cơ thể kiến có thể được chia làm 3 phần chính là đầu, ngực và bụng. Ðầu của kiến có 3 đặc điểm chính là hai cần ăng-ten, mắt và miệng. Hai cần ăng-ten này chính là nơi cảm nhận mùi, vị, nghe ngóng và nhận biết khi đụng chạm vật gì. Hai cần này chuyển động không ngừng để tiếp nhận các cảm giác đó. Kiến dùng hai cần ăng-ten để định hướng, ngửi mùi trong không khí, tìm thức ăn, và nhận biết đồng loại. Vài nhà khoa học tin rằng mỗi loài kiến đều có một mùi đặc trưng khiến chúng có thể nhận ra nhau một cách dễ dàng.

Kiến có hai mắt và mắt kiến thuộc về đa tròng, tức có nhiều trong mắt. Có loài mỗi mắt có khoảng 6 tròng nhưng cũng có loài mà mắt có hơn 1000 tròng. Thông thường mắt kiến chúa và kiến đực có nhiều tròng hơn kiến thợ. Kiến chỉ thấy một phần của vật thể trong mỗi tròng mắt này, tương tự như màn hình TV với cấu tạo điểm ảnh (pixel), sự tổng hợp các điểm ảnh tạo nên hình ảnh trên màn hình TV. Cũng nhờ vào con mắt tổng hợp này, kiến có thể thấy sự chuyển động của các vật thể một cách dễ dàng. Tuy vậy, kiến không thể nhìn xa được mà chỉ có thể nhìn rõ các vật tương đối gần. Một số loài kiến có đến 3 con mắt nhưng thuộc loại rất đơn giản vì chỉ có thể phân biệt được sáng hay tối. Một số loài kiến không có mắt.

Miệng của kiến có hai hàm, hàm ngoài và hàm trong. Hàm ngoài lớn hơn hàm trong, thay vì chuyển động lên xuống giống như người, hàm ngoài của kiến chuyển động theo chiều ngang. Hàm ngoài này dùng để tha thức ăn, trứng hoặc ấu trùng (larva) và để đánh nhau với kẻ thù. Rất nhiều loài kiến dùng đôi hàm ngoài này để xây tổ như đào đất và cắt gỗ. Cặp hàm trong nằm ngay sau cặp hàm ngoài được dùng để nhai và nghiền nát thức ăn. Thức ăn sau khi nghiền nát sẽ được lưỡi đưa vào một túi nhỏ ngay sau miệng. Túi nhỏ này cấu tạo bởi các cơ, chuyển động và bóp những thức ăn đã được nghiền nát để vắt chất dịch. Kiến tiêu thụ chất dịch bổ dưỡng này trong khi phần bã được thải ra ngoài. Thức ăn của kiến bao gồm nhiều loại từ côn trùng, hoa quả cho đến cây cỏ. Cặp hàm trong của kiến có những hàng lông rất nhỏ mà công dụng như chiếc lược dùng để lau chùi hai cần ăng-ten hoặc những cặp chân.

Loài kiến không có tai nhưng chúng nó có thể nghe được bằng cơ quan gọi là chordotonal. Cơ quan này có ở trên ngực, ăng-ten, chân và đầu của kiến. Chúng cảm nhận được tiếng động lan truyền trong đất, tuy nhiên chưa ai biết chúng có thể cảm nhận được tiếng động trong không khí hay không. Có một số loài kiến có thể tự mình gây ra tiếng động nhờ vào một cơ quan ở ngay dưới bụng. Cơ quan này chia làm hai phần, một phần có hình dáng như lưỡi cưa, phần kia cứng hơn và như điểm nhọn, tiếng động được tạo ra khi hai phần cạ vào nhau. Ðôi khi tiếng động được tạo ra lớn tới độ tai người có thể nghe được. Ngực là phần giữa của thân thể kiến bao gồm cả khúc nối và phần giao tiếp của bụng. Ngực nối với đầu qua cần cổ rất nhỏ.

Kiến có ba cặp chân. Mỗi chân được chia ra làm 9 khúc nối nhau bởi những khuỷu chân. Mỗi bàn chân của kiến đều có hai cái móc. Nhờ vào hai cái móc này mà kiến có thể bám, di chuyển trên cây và các bề mặt. Kiến cũng dùng các móc này để bới đất và đào các đường hầm dưới đất. Cặp chân trước cũng có cái lược giống như hàm trong dùng để lau chùi những cặp chân khác và đôi cần ăng-ten.

Trong loài kiến, kiến chúa và kiến đực có cặp cánh dùng khi giao phối. Những nữ kiến thợ không bao giờ mọc cánh.

Bụng của kiến được chia làm hai phần, eo và bầu. Eo, như đã nói ở trên, có hình dáng tròn nhỏ như viên bi, nối ngực và bầu. Một vài loài kiến có kim chích nọc độc ở ngay đít bụng. Có loài lại có tuyến nọc ở bụng và dùng nó để phun vào kẻ thù.

[IMG][IMG]
Kiến là loài sống thành bầy đàn và hợp tác. Chúng có thể bám vào nhau tạo thành cây cầu hoặc thậm chí cả một tiểu đảo nổi trên mặt nước.

Giác quan
Giác quan chính của kiến là cần ăng-ten. Loài kiến có hai cần ăng-ten ở ngay phía trước đầu. Hai cần ăng-ten này là cơ quan khứu giác, thính giác và xúc giác. Người ta có thể dễ dàng nhận biết một con kiến khoẻ mạnh bằng cách nhìn vào cần ăng-ten chuyển động một cách không ngừng nghỉ. Nhờ vào hai cần ăng-ten này mà loài kiến có thể ngửi được mùi trong không khí, kiểm tra thức ăn, giao tiếp, xác định phương hướng, tìm kiếm thức ăn và nhận biết đồng loại. Một số các nhà khoa học cho rằng trong một tổ kiến, chúng tiết ra mùi đặc trưng để nhận biết lẫn nhau. Ngoài ra, kiến còn có cơ quan xúc giác ở miệng và vài nơi khác trên thân thể. Các cơ quan này là những sợi lông nhỏ và gai.

Cấu trúc xã hội
Hầu hết mọi xã hội loài kiến đều được chia ra làm ba thành phần. Ðó là kiến chúa, kiến thợ và kiến đực. Sau khi giao phối với một trong những chàng kiến đực, kiến chúa bắt đầu làm tổ và chỉ đẻ trứng trong suốt cuộc đời còn lại của mình. Kiến chúa không cai trị tổ kiến nhưng các kiến thợ luôn mang thức ăn lại nuôi như chúng nuôi lẫn nhau. Có tổ chỉ có một kiến chúa nhưng có tổ lại có nhiều kiến chúa cùng lúc. Ngoài nhiệm vụ chăm sóc và nuôi nấng kiến chúa, đàn kiến thợ còn có nhiệm vụ xây tổ, mở mang tổ rộng hơn, sửa chữa tổ khi bị hư hại, chăm sóc ấu trùng hay trứng kiến, tìm kiếm thức ăn và chiến đấu với kẻ thù. Một nữ kiến thợ có thể chỉ làm một công việc suốt đời, nhưng cũng có thể thay đổi từ việc này qua việc khác. Trong tổ kiến, lười nhất là những chàng kiến đực, chẳng làm việc gì khác ngoài nhiệm vụ giao phối với nàng kiến chúa và có cuộc đời ngắn ngủi nhất. Hình dáng kiến thợ to nhỏ khác nhau. Thường thì kiến lính to nhất, với đầu và hàm to nhất. Ở một số loài kiến, kiến lính chỉ có nhiệm vụ chiến đấu và bảo vệ. Nhưng ở một số loài kiến khác, kiến lính chẳng có nhiệm vụ gì đặc biệt cả.

Tổ kiến
Loài kiến thợ mộc (capenter ant) to lớn màu đen hay nâu thường làm tổ ở những cành cây, đôi khi chúng làm tổ ngay trên xà nhà. Loài kiến này không ăn gỗ như con mọt mà xén gỗ để làm tổ. Có nhiều loài làm tổ ở những thân cây mục hay dưới lớp vỏ cây, hoặc ở các phần rỗng của lá cây, đôi khi ở trong những gai cây. Một vài loài nhai nát lá cây hay thân cây để xây tổ.

Loài kiến đan tơ (weaver ant) cuộn, đan lá lại với nhau để làm tổ. Có những kiến thợ giữ cạnh lá lại với nhau, trong khi những kiến thợ khác tha ấu trùng nhả tơ để nối lá lại. Ấu trùng là giai đoạn tượng hình đầu tiên của kiến. Những ấu trùng này có khả năng nhả những sợi tơ trắng để giữ, nối lá lại với nhau thành tổ.

Tổ kiến có loại to, loại nhỏ. Có loại nhỏ chỉ bằng đầu ngón tay, chứa khoảng từ chục con tới 2, 3 trăm con kiến. Có loại xây tổ dưới đất rộng tới cả 12 thước như loài kiến ở vùng nhiệt đới chứa hàng chục triệu con kiến. Có loài kiến xây mười mấy cái tổ nối nhau bằng những đường hầm ở dưới đất như loài kiến vùng bắc Mỹ và ở Âu Châu và rộng như một sân chơi tennis. Có tổ cao tới cả thước chứa hàng triệu con. Hầu hết các tổ kiến được xây và chia ra làm nhiều phòng. Một phòng cho kiến chúa và trứng. Nhiều phòng dùng như phòng nuôi trẻ để chứa nhộng đang tăng trưởng. Rất nhiều phòng được dùng làm chỗ tụ họp cho kiến thợ và để nghỉ ngơi. Trong một số tổ, có những nhà kho để chứa đồ ăn và nuôi nấm. Tổ sẽ được nới rộng thêm khi số kiến ngày càng đông. Ở xứ lạnh vào mùa đông, kiến sống ở khúc sâu nhất của tổ dưới lòng đất và chui ra khỏi tổ khi mùa xuân đến.

[IMG][IMG]
Tổ của loài kiến gặt (harvester ant) ở Ấn Độ và kiến mộc ở Bắc Mỹ.

Chu kỳ sống
Kiến chúa thường đẻ trứng nở ra kiến thợ, nhưng vào một thời kỳ nhất định trong năm thì đẻ trứng nở ra kiến đực và kiến chúa tơ. Vài tuần sau khi sinh, kiến đực và kiến chúa tơ sẽ bò ra khỏi tổ, bay lên không trung để giao phối. Trong cuộc giao phối, kiến đực lưu tinh trùng trong cơ thể kiến chúa. Kiến chúa có thể giao phối với một hay nhiều chàng kiến đực. Trong mùa giao phối này, số lượng tinh trùng trong bụng kiến chúa đủ dùng trong suốt cuộc đời sinh sản của nàng.

Sau khi giao phối, kiến chúa và kiến đực đáp xuống đất. Những chàng kiến đực bò quanh quẩn rồi chết. Còn kiến chúa cắn đứt đôi cánh và bò đi kiếm chỗ làm tổ. Có trường hợp kiến chúa bò về tổ cũ và được chấp nhận. Ðôi khi kiến chúa sống nhờ ở một tổ kiến khác loài, được chúng chăm sóc và nuôi nấng cho đến khi sinh sản. Nhưng thông thường thì kiến chúa tự xây tổ mới. Sau khi sửa soạn nơi xây tổ, kiến chúa bịt kín cửa ra vào và bắt đầu đẻ trứng. Trong suốt thời gian này, kiến chúa sống bằng cách ăn cặp cánh đã trở nên vô dụng. Ðôi khi kiến chúa đói quá ăn cả những trái trứng của mình. Kiến chúa có khả năng kiểm soát để tinh trùng thụ tinh cho trứng hay không. Trứng nào không được thụ tinh sẽ trở thành kiến đực, trứng nào được thụ tinh sẽ trở thành kiến thợ hoặc kiến chúa tơ.

Trứng kiến rất nhỏ, chỉ vài ngày sau nở thành ấu trùng. Ấu trùng màu trắng, nhìn giống như con giun. Hầu hết các loại ấu trùng không tự di chuyển được. Kiến chúa phải nuôi ấu trùng bằng nước dãi của mình và đôi khi bằng chính những trái trứng khác. Giai đoạn này mất khoảng vài tuần, sau đó ấu trùng trở thành nhộng. Một số loại ấu trùng tự nhả và bọc chúng trong một cái kén trắng bạc trước khi trở thành nhộng. Nhộng là loại kiến non mình trong suốt, không ăn và bất động, sau từ 2 tới 3 tuần thì trở thành kiến. Khởi đầu là bầy kiến thợ. Kiến thợ sau khi trưởng thành, rời tổ đi kiếm mồi mang về cho kiến chúa và đàn ấu trùng ăn, và bắt đầu phận sự chăm sóc trứng, ấu trùng và nhộng trong khi kiến chúa tiếp tục đẻ trứng. Kiến chúa đẻ hàng ngàn trứng trong suốt một đời mình mà đa số chúng đều nở ra kiến thợ.

Ðể sinh tồn và chống trả những loài ăn kiến như ếch, nhện, chim, bò sát… và cả những loài kiến thù địch khác, loài kiến tự vệ bằng cách chích, cắn hay phun a-xít formic hoặc những hóa chất khác. Khoảng nửa số loài kiến có ngòi chích, chẳng hạn như kiến lửa hay loài kiến to chích vào da. Ngòi chích này tiết ra nọc gây đau rát và khó chịu. Loài không có ngòi chích thì có thể phun độc từ đít bụng.

Kiến ở tổ này thường đánh nhau với tổ khác. Có loài đánh nhau rất văn nghệ như kiến mật, chúng chỉ dùng sức đẩy nhau, không gây thương tích. Bên nào thắng thì chiếm tổ bên kia. Nhưng cũng có loài đánh nhau đến chết, cắn chân, cắn tay, cắn ăng-ten, cắn eo cho đứt bụng… Thông thường chúng hay “phân thây” bằng cách nhiều con kiến cùng bọn, cắn giữ chân, bụng, ăng-ten của kiến địch và kéo căng ra, và những con kiến khác cùng bầy dùng hàm cắt con kiến này thành từng mảnh! Bên nào thắng sẽ chiếm trứng, ấu trùng và kiến con về làm thức ăn. Có loài kiến chỉ chuyên sống bằng nghề thảo khấu như vậy.

[IMG][IMG]
Loài kiến tăng trưởng qua 4 giai đoạn: trứng (egg), ấu trùng (larva), nhộng (pupa), kiến trưởng thành (worker, male & queen).

Thông tin
Kiến nói chuyện với nhau bằng nhiều cách. Có loài sống trên cây hay lá dùng bụng của mình đập lên vách tổ báo hiệu khi tìm được thức ăn hay kẻ thù xuất hiện. Rung động truyền qua vách tổ đến đàn kiến bên trong khiến chúng ùa ra để giúp khuân mồi hay chống đỡ kẻ thù. Có loài tạo ra tiếng động như đã nói ở trên.

Kiến cũng có thể thông tin với nhau bằng cách tiết ra hóa chất hoá gọi là pheromone. Chất này được chứa trong những hạch ở đầu, ngực hay bụng. Chúng có mùi hay vị đặc trưng rất nhạy cảm với loài kiến, mỗi loại hóa chất tiết ra đều mang một ý nghĩa riêng. Thí dụ, chất tiết ra ở bụng để đánh dấu đường đến chỗ có thức ăn. Nếu cảm thấy nguy hiểm thì loại pheromone khác có thể được tiết ra để báo động.

Có lẽ loài kiến nhận biết nhau bằng mùi. Khi hai con kiến gặp nhau, chúng dùng ăng-ten để giao tiếp. Nếu cùng tổ, chúng có thể chạm miệng và một con sẽ nhả ra một chút dịch đường cho con kia ăn.

Tuổi thọ
Tuổi thọ của kiến chúa lâu nhất, khoảng từ 10 tới 20 năm. Kiến thợ sống từ 1 đến 5 năm. Kiến đực chỉ sống được vài tuần tới vài tháng và chết sau khi giao phối.

Các loài kiến
Có trên 10 ngàn loài kiến, được chia thành 8 – 9 nhóm dựa vào cấu tạo bên ngoài. Tuy nhiên, kiến cũng được phân nhóm dựa vào tập quán của chúng như 1- kiến lê dương (army/legion ant), 2- kiến chủ nô (slave-maker ant), 3- kiến nhà nông (farmer ant), 4- kiến sữa (dairying ant), 5- kiến mật (honey/honeypot ant), 6- kiến nấm (fungus-growing ant), 7- kiến bun (bull/bulldog/jumping ant), 8- kiến đan tơ (green tree/weaver ant) và 9- kiến gỗ (wood ant).

Kiến lê dương là loài kiến săn mồi rất hung dữ, đi cả bầy. Có loài săn mồi dưới mặt đất, đi qua những đường hầm. Mồi của chúng thường là các loài côn trùng và nhện. Nhưng đôi khi những con thú lớn cũng bị giết chết nếu chạy không kịp. Hầu hết tổ của loài kiến lê dương này chứa từ 10 ngàn cho đến nhiều triệu con. Kiến lê dương không làm tổ dưới lòng đất mà bên trên mặt đất, nhưng tổ của chúng cũng không cố định. Khi nghỉ ngơi, bầy kiến bám vào nhau thành một khối lớn. Ðôi khi là một khối treo lủng lẳng trên cành cây hay trong bọng cây. Kiến chúa cùng với trứng nằm ở giữa ổ kiến này. Một số loài kiến lê dương đi săn mồi nhiều tuần liền, xong lại nghỉ xả hơi vài tuần. Tận dụng lúc nghỉ ngơi, kiến chúa đẻ hàng ngàn trứng.

[IMG]
Bầy kiến lê dương đang hành quân.

Loài kiến chủ nô đi tấn công các tổ kiến khác, bắt ấu trùng mang về tổ mình. Khi lớn lên thành kiến, số ấu trùng này coi tổ kiến như là tổ của mình và khởi công xây cất cũng như tu bổ thêm. Có loài kiến chủ nô ở Amazon, vì hàm quá cong và lớn, rất khó để xây tổ hoặc ăn uống, chúng đi bắt các loài kiến khác làm nô lệ xây tổ và nuôi chúng ăn. Những kiến chúa chủ nô sau khi giao phối, không bao giờ tự xây tổ mà đi cướp tổ của các loài kiến khác bằng cách giết kiến chúa và đuổi kiến thợ đi. Khi ấu trùng trở thành kiến, chúng phục dịch kiến chúa chủ nô này như kiến chúa cùng loài của mình, chăm sóc trứng và nuôi nấng ấu trùng do kiến chúa chủ nô này đẻ ra. Kiến lớn lên và lại đi tấn công tổ của loài kiến khác, mang ấu trùng về tổ mình và số nô lệ bành trướng thêm ra.

Loài kiến nhà nông thì đi kiếm và tha những loại hạt đem về cất trữ ở những căn phòng đặc biệt trong tổ. Chúng luôn luôn có thức ăn nên không bao giờ sợ đói. Chúng cắn rời vỏ, nhai nát nhân và hút lấy nước. Có loài ăn cả hoa, trái cây và côn trùng.

Loài kiến sữa phụ thuộc hoàn toàn vào mật hay dịch đường. Chúng lấy dịch đường từ một số côn trùng như rệp sáp hay rầy mềm, chẳng hạn như loại rầy bám trên đốt cây mía. Loại côn trùng này hút và ăn dịch đường từ cây. Chúng hút quá nhiều và phải thải bớt dịch đường cho kiến thợ ăn. Thông thường, rệp tiết mật mỗi khi kiến thợ dùng ăng-ten vuốt nhẹ lên người chúng. Bù lại, những con rệp sẽ được loài kiến này bảo vệ khỏi kẻ thù. Một số loài kiến sữa chăm sóc và gìn giữ trứng của những con rệp này suốt mùa đông. Khi trời chuyển sang tiết xuân, trứng nở ra rệp và kiến sẽ tha chúng ra khỏi tổ, cho lên cây. Có loài kiến sữa “chăn” cả đàn rệp bám vào rễ cây mọc dưới tổ của chúng. Khi kiến chúa non rời tổ để đi xây tổ mới, kiến chúa không quên ngậm theo một nàng rệp bụng đầy trứng. Sau chuyến bay giao phối trên không, kiến chúa đi xây tổ mới cùng với “đàn” rệp giống.

[IMG]
Kiến sữa đang “chăn” bầy rầy mềm để lấy dịch đường.

Loài kiến mật sống bằng cách đi kiếm những giọt “mật ngọt” từ côn trùng hoặc cây cỏ mang về cất trong tổ. Ðể giữ mật, chúng có những con kiến “bồn” ăn và dồn mật xuống bụng khi những con kiến thợ mang về. Bụng những con kiến bồn này sẽ nở to ra tới độ chúng đi không được mà chỉ có thể đeo bám trên trần của tổ kiến. Khi con kiến nào cần ăn, nó chỉ việc dùng ăng-ten vỗ nhẹ vào bụng một chú kiến bồn để tiết mật ra cho nó ăn. Loài kiến này thì sống ở những vùng khô và ấm.

Loài kiến nấm nuôi các vườn nấm ở ngay trong tổ của chúng. Chúng nuôi rất nhiều loại nấm nhỏ xíu khác nhau để ăn. Loài kiến nấm dùng lá, cuống hoa, và những phần khác của thực vật làm phân bón cho những vườn nấm của mình. Khi một kiến chúa đi xây tổ mới, nàng không quên ngậm theo một mớ nấm trong hàm để làm giống cho những vườn nấm mới. Loài kiến nấm này phân bố rộng ở vùng nhiệt đới. Loài kiến nấm nổi tiếng nhất là loài kiến cắt lá (leaf cutter ant). Chúng xây những tổ rất lớn bên dưới mặt đất, có thể chứa đến cả triệu con. Ban đêm, hàng đàn đi cắt lá tha về tổ. Chúng khiêng những mảnh lá cao qua đầu và đi thành hàng. Những mảnh lá này sẽ được nhai nát để dùng làm phân bón cho những vườn nấm của chúng. Loài này được coi là loài phá hoại mùa màng vì hay cắn lá.

[IMG][IMG]
(Trái) Kiến cắt lá đang tha mồi về tổ – (Phải) Những “bồn” chứa mật của bầy kiến mật

Kiến bun chỉ sống ở Úc và New Caledonia, được coi là loài “cổ xưa” nhất với nhiều con kiến thợ to đến 3.5 cm. Loài kiến này rất hung dữ. Chúng có cặp ngàm và nọc chích rất mạnh. Tổ chúng làm dưới đất. Thường mỗi tổ chỉ có khoảng một trăm con kiến thợ. Ðây là loài kiến duy nhất mà kiến chúa không dấu mình trong tổ mà ra ngoài đi săn mồi để nuôi ấu trùng. Chúng thường săn các loài côn trùng khác. Loài kiến này chạy rất nhanh và thậm chí còn biết nhảy nữa.

Có một số loài cây mà kiến rất thích, hay có thể hiểu là các loài cây này thích kiến và dụ kiến đến ở trên cây. Ðể dụ kiến, các loài cây này có những cấu trúc cành hay lá đặc biệt dễ cho kiến làm tổ, hoặc tiết ra dịch đường cho kiến ăn. Một số cây có những mấu kỳ lạ nổi trên thân, chứa dưỡng chất để kiến ăn. Khi kiến đan tơ xuất hiện, chúng sẽ bảo vệ cây khỏi sâu bọ hại lá, hay thậm chí kể cả thú ăn lá nhưng sợ kiến.

[IMG]
Tổ kiến đan tơ. Ở Việt Nam, loài này được gọi là kiến vàng, các nhà vườn hay thả kiến vàng để bảo vệ cây.

Loài kiến gỗ sống trong rừng vùng bắc bán cầu. Khi đi theo hàng, chúng tiết ra pheromone lưu lại trên đường. Loài này xây tổ rất lớn bằng những nhánh cây nhỏ. Chúng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng cây khỏi sự phá hoại của sâu bọ. Ðôi khi người ta phải dời chúng từ khu rừng này sang khu rừng kia để trừ sâu. Loài kiến gỗ không có nọc chích vì vậy chúng phun a-xít formic để tấn công kẻ địch. A-xít formic xuất phát từ tiếng la-tinh “formica” nghĩa là “kiến gỗ”.

———————————————————

Nói chung kiến đóng một vai trò quan trọng trong tự nhiên. Chúng chế ngự các loài côn trùng và chính chúng cũng là nguồn thức ăn của những loài khác như chim chóc, ếch nhái, bò sát… Kiến có thể gây thiệt hại cho nhà nông như cắn lá, nuôi rầy gây thiệt hại cây cối… nhưng kiến cũng mang lại lợi ích cho nhà nông như làm đất tơi dễ đâm rễ, bảo vệ cây trừ sâu bọ…

Share this
29 Aug 2016

Sự sinh sản của loài kiến

Kiến chúa đã cài sẵn 2 thứ “vũ khí hóa học” trên trứng để đảm bảo độc quyền sinh nở của mình Khi một con kiến thợ đẻ trứng, đàn kiến sẽ xúm vào phá trứng của nó. Thế nhưng không ai dám đụng đến trứng của kiến chúa dù hình dạng của chúng không khác gì trứng kiến thợ.
meo duoi kien
Bằng cách nào kiến chú đã giữ được độc quyền sinh sản của mình?
Kiến chúa thực hiện điều này bằng 2 thứ “vũ khí hóa học” cài sẵn trên trứng của chúng. Loại thứ nhất là một dạng hóa chất phức tạp có tên gọi pheromone, khóa hết toàn bộ chức năng sinh sản của kiến thợ khi chúng tiếp xúc với trứng. Loại thứ hai là một hỗn hợp hydrocarbon kiến chúa truyền từ cơ thể sang trứng, đóng vai trò phân biệt đâu là trứng kiến thợ, trứng kiến chúa, để đàn kiến biết đường mà tiêu diệt các trứng của kiến thợ dám “cạnh tranh”. Kết quả này đã được các nhà khoa học tại đại học Wuerzburg University, Đức, kiểm chứng. Trước hết họ nuôi nhiều đàn toàn kiến thợ, đợi chúng để trứng rồi để vào đó các trứng của riêng kiến chúa. Kết quả cho thấy, khi có mặt cả hai thứ trứng giống y như nhau về hình thức trong ổ, đàn kiến chỉ phá hủy trứng kiến thợ và sau đó, toàn bộ lũ kiến thợ trở nên vô sinh.
Share this
29 Aug 2016

Vòng đời của kiến

A. ĐẶC TÍNH SINH HỌC

· Gây dị ứng, khó chịu do axid formic và piperidine allacoids.

· Sống khắp nơi.

· Hoạt động cả ngày lẫn đêm

vong doi cua kien

B. VÒNG ĐỜI CỦA KIẾN:

C. KIỂM SOÁT

· Bẫy: keo, trượt

· Phun tồn lưu

Share this
23 Aug 2016

Loài kiến

Bạn có thể nghĩ chúng không quan trọng lắm. Thế nhưng kiến lại là những kẻ xây dựng tổ giỏi và các đàn kiến được hình thành phát triển bằng bất cứ giá nào – kể cả gây thiệt hại cho quý vị. Hãy tìm hiểu về các loại kiến gây hại chính có ở Việt Nam.

Kiến lửa
Solenopsis sppRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng
Kiến chúa dài 15mm.
Kiến thợ dài 3–6mm.
Đầu và thân có màu đồng hoặc nâu, bụng màu tối hơn.
Solenopsis có râu hai nhánh rất đặc biệt, thường nhìn thấy ở phía trước kiến cái sinh sản.
Vòng đời
Sau khi làm thành đàn trong tổ và giao phối, kiến chúa tìm một nơi thích hợp để đẻ trứng. Khi đó, nó có thể để đến 125 quả trứng vào cuối mùa xuân.
Ấu trùng nở sau 8 đến 10 ngày và giai đoạn nhộng kéo dài từ 9 đến 16 ngày.
Ấu trùng sống nhờ các chất tiết ra từ tuyến nước bọt của kiến chúa và cơ cánh bị rách cho đến khi những con kiến thợ đầu tiên ra đời. Sau khi lứa ấu trùng đầu tiên này trở thành kiến thợ, vai trò của kiến chúa là tiếp tục đẻ trứng – kiến chúa có thể đẻ đến 1500 trứng một ngày.
Kiến thợ tiếp tục chăm sóc ấu trùng, xây tổ và tìm thức ăn.
Kiến đực khỏe cũng được sinh ra trong mùa sinh sản
Tập quán
Thức ăn của kiến thợ bao gồm xác động vật chết, kể cả côn trùng, giun đất và động vật có xương sống.
Đặc tính bầy đàn – giao phối giữa Kiến chúa và kiến đực sinh sản xảy ra ở trên cánh vào giữa cho đến cuối mùa hè. Kiến đực chết sau khi giao phối.
Vị trí tổ – Vị trí của tổ có thể được xác định bởi sự xuất hiện của các đống đất cao 40cm hoặc cạnh các vật nằm trên mặt đất chẳng hạn như khúc gỗ.
Nếu bị gây hấn, chúng phản ứng rất dữ dội và có thể chích rất đau, tạo mụn mủ sau khoảng 48 giờ.
Loài kiến này là loài dịch hại chính trong nông nghiệp và ở các khu đô thị, phá hoại mùa màng và tấn công các khu dân cư cả trong nhà và ngoài trời.

Kiến đen hay Kiến vườn đen
Lasius nigerRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Kiến thợ dài 4–5mm.
Kiến chúa dài 15mm.
Có màu nâu đậm hoặc đen
Có 1 đốt ở thắt lưng (cuống nhỏ).
Không chích.
Vòng đời
Kiến chúa trú đông trong đất. Trứng được đẻ vào cuối mùa xuân. Ấu trùng nở sau 3-4 tuần.
Ấu trùng sống nhờ các chất tiết ra từ tuyến nước bọt của kiến chúa cho đến khi trưởng thành.
Kiến thợ tiếp tục chăm sóc ấu trùng, xây tổ và tìm thức ăn.
Kiến đực khỏe cũng được sinh ra trong mùa sinh sản.
Tập quán
Kiến thợ kiếm ăn theo các lối mòn được xác định rõ xung quanh các nguồn thức ăn. Thực phẩm ngọt là thức ăn chúng ưa thích nhưng các thức ăn có hàm lượng protein cao cũng bị chúng tấn công.
Đặc tính bầy đàn – giao phối giữa Kiến chúa và kiến đực xảy ra ở trên cánh vào giữa cho đến cuối mùa hè. Kiến đực chết sau khi giao phối.
Vị trí tổ – thường ở ngoài trời trong đất và dưới các tấm đá lát ở phía có nắng của các tòa nhà. Vị trí của tổ có thể được xác định bởi sự xuất hiện của bột đất mịn xung quanh cửa tổ.

Kiến Pharaoh
Monomorium pharaonisRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Workers 1.5–2mm long, yellow–brown with brown abdomen.
Males 3mm long, black and winged.
Queens 3.5–6mm long, dark red in colour with wings.
Black eyes. 2 small segments at the pedicel.
Vòng đời
Multi–queen colonies.
Swarming can take place at any time of the year.
Winged adults seldom fly so rarely seen. Wings are soon lost after mating.
Tập quán
Well–defined trails are laid which are often associated with heating systems. Feeds indoors on high protein foods — meat, fats, blood, dead insects, etc.
Swarming characteristics — new colonies are often formed through nests that have been disturbed e.g., as a result of insecticide spray treatments. Each queen produces up to 3500 eggs in its lifetime.
Nest locations — deep seated in cavities in heated buildings. Often found in hospitals. Associated with humid conditions. Colonies can range from a few dozen to 300,000 individuals.

Kiến Roger
Hypoponera punctatissimakien roger

Hình dạng

Reddish brown in colour.
Workers 2mm long.
1 large segment at the pedicel.
1st two segments of the abdomen are constricted.
Sting present.
Vòng đời
Little is known about the life cycle.
Tập quán
Workers forage randomly and lay no trails as live prey are hunted, especially springtails. Rarely seen outdoors.
Swarming characteristics — will swarm all year round. Winged adults are often found in electric fly killers.
Nest locations — damp residues and debris. Crevices around drains and behind broken wall tiles.

Kiến Caribe
Paratrechina pubensRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Kiến thợ dài từ 1.5 đến 3mm.
Màu vàng nâu hay đậm thành đỏ nâu.
Có 1 sọc xuất hiện sau khi chúng ăn như màng mỏng bảo vệ phần bụng.
Không chích.
Râu rất dài gấp 2 lần chiều rộng của đầu..
Vòng đời
Kiến thợ tìm kiếm thức ăn mọi nơi và thường ở những đường mòn.
Ấu trùng ăn tiết dịch từ tuyến nước bọt của kiến chúa cho đến khi chúng trờ thành các kiến thợ.
Kiến thợ tiếp tục chăm sóc ấu trùng, xây tổ và kiếm ăn.
Tập quán
Kiến thợ nhặt các thức ăn rắn và lỏng bao gồm các loài côn trùng khác, thịt, các loại hạt, trái cây và chất ngọt từ côn trùng hút mật..
Có xu hướng sống ở những khoảng trống, các vết nứt và khe hở có sẵn, nhưng cũng sống trong chỗ bụi bẩn, đóng bám vôi, thùng rác và nền nhà.
Chúng có thể đào xới 1 lượng đất đáng kể trong quá trình xây dựng tổ.
Chúng nổi tiếng bới sự di chuyển nhanh và thất thường.

Kiến Achentina
Linepithima humileRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Kiến thợ dài khoảng 2mm.
Có màu nâu nhạt hoặc nâu đậm.
Không sống theo đàn
Cắn chứ không chích
Chu kỳ sống
Kiến thợ sinh sản vào mùa xuân và kéo dài đến tận mùa thu.
Kiến có cánh (Kiến vua và Kiến chúa có khả năng sinh sản), thường sinh sản vào đầu mùa xuân, trước kiến thợ, trưởng thành sau ba tháng và giao phối ngay sau đó.
Kiến Achentina giao phối trong tổ nên không thấy loài này xuất hiện theo đàn.
Tập quán
Kiến thợ thường đi kiếm thức ăn trong quãng đường xa nên không dễ để tìm đường đến tổ của chúng.
Chúng thích ăn đồ ngọt nhưng còn ăn cả các loài côn trùng còn sống hoặc đã chết, ngũ cốc và trái cây đã hư.
Kiến Achentina tấn công tất cả các loài kiến khác cùng sống trong một khu vực.

Kiến đường
Tetramorium caespitumkien duong

Hình dạng

Màu nâu đậm hoặc hơi đen.
Dài 1/8 inch.
6 chân.
2 lông gai trên lưng.
2 đốt trên cuống nhỏ.
Có các đường rãnh trên đầu và ngực.
Ngực không đều với 1 cặp lông gai
Râu 12 đốt với ngạnh 3 đốt.
Kiến cánh thường bị nhầm lẫn với mối.
Chu kỳ sống
Thường thấy vào mùa xuân và mùa hè.
Thường thấy xuất hiện tại bất cứ thời gian nào trong năm trong những kết cấu nóng.
Tập quán
Thức ăn – ăn hầu như mọi thứ mà con người ăn và ăn cả thức ăn của vật nuôi trong nhà.
Xuất hiện – thường thấy xâm nhập vào trong nhà để kiếm ăn vào ban đêm. Có thể chui qua đường ống và dây điện.
Tổ – trong các thảm cỏ hoặc dưới các phiến đá, gỗ hoặc các tấm. Các mô đất được hình thành dọc theo lối đi, tấm lót sàn và gần chân móng thành từng cụm. Thường thấy đàn kiến tập trung ở gần nơi có nước.

Kiến đục gỗ
Camponotus pennsylvanicuskien duc go

Hình dạng

Kiến thợ dài ¼ inch
Kiến chúa dài ½ inch
Thường có màu hơi đen nhưng cũng có thể là màu đen và đỏ.
Có 6 chân.
Chu kỳ sống
Bầy đàn thường xuất hiện vào mùa xuân.
Đàn Kiến đục gỗ có thể sống từ 3-6 năm.
Tập quán
Nơi sống – cả trên thân gỗ ẩm ướt và khô nhưng thích sống ở nơi ẩm ướt hơn chẳng hạn như gỗ được làm ướt bằng cách thẩm thấu nước.
Bên trong – thường đào các đường trong thân gỗ với hình dạng trơn tru.
Bên ngoài – thỉnh thoảng xuyên thủng các phần trên cây.
Xuất hiện – chủ yếu kiếm ăn vào ban đêm những cũng có thể là ban ngày khi vào đầu mùa xuân/mùa hè. Các dấu hiệu bao gồm: mùn cưa, thân gỗ ướt, hay có tiếng động lạ bên trong tường.
Thức ăn – thức ăn chủ yếu là dịch ngọt, cũng ăn nhựa cây, trái cây và xác côn trùng. Chúng không ăn gỗ. Trong nhà, chúng thường bị hấp dẫn bởi các chất ngọt, béo, dầu mỡ và thịt.
Tiếp xúc – rất hiếm khi tiếp xúc với người, nhưng nếu gặp, chúng sẽ cố gắng để lẩn trốn. Chúng không chích.

Kiến sả
Acanthomyops clavigerkien sa

Hình dạng
Hình ảnh kiến cây sả
Màu sắc thay đổi từ màu vàng nhạt đến màu đỏ thâm – vàng hay màu nâu nhạt.
Kiến thợ dài 3/16 inch
Đàn kiến dài 1/8 inch
Có một mấu cứng với cuống nhỏ
Có lông thẳng đứng, thưa thớt trên đầu, ngực và bụng.
Chu kỳ sống
Bầy đàn thường xuất hiện vào cuối mùa đông và mùa xuân, thường bị nhầm với mối.
Tập quán
Mùi – thường tạo ra một mùi sả dễ chịu khi bị bóp nát.
Làm tổ ở những nơi khác nhau như gỗ để ngoài trời, đồng cỏ, vườn, thảm cỏ, gần nền nhà. Các đàn kiến đôi khi còn thấy ở dưới các tấm bê tông, các tảng đá lớn hoặc các khúc gỗ mục nát. Chúng thường tạo ra các mô đất nhỏ xung quanh chỗ chúng ở.

Kiến ma
Tapinoma melanocephalumkien ma

Hình dạng

Đầu màu đen
Chân và bụng mờ hoặc trong mờ.
Dài 1/16 inch.
Chu kỳ sống
Đàn kiến sinh sản liên tục
Tập quán
Kiếm ăn – trong nhà: những đồ ăn ngọt và dầu mỡ; ngoài trời: những con côn trùng có các dịch ngọt.
Làm tổ – trong nhà: những nơi chật hẹp, những chỗ trống trên tường; ngoài trời: trong các chậu hoa, dưới các vật trên mặt đất, dưới vỏ cây xốp.
Vị trí tổ – ở những nơi có độ ẩm cao, có thể thấy trong nhà bếp và phòng tắm.
Đàn kiến có thể tập trung trong nhiều tổ khác nhau.

Kiến nhà mùi
Tapinoma sessilekien nha mui

Hình dạng

Có màu nâu hoặc đen.
Dài từ 1/16 đến 1/8 inch.
Râu có 12 đốt và không và không có ngạnh.
6 chân.
Chu kỳ sống
Thời gian để cho kiến trưởng thành phát triển là từ 34-38 ngày.
Thường sống trong vài năm.
Tập quán
Thức ăn – ăn hầu hết mọi thực phẩm trong nhà, đặc biệt là các món ngọt như kẹo và trái cây như dưa. Chúng ăn cả thức ăn của các con vật nuôi.
Vị trí làm tổ – thích những nơi ẩm ướt. Ở những nơi khô, nóng, chúng thường làm tổ trên các cây trồng trong nhà và thậm chí nắp bàn cầu.
Mùi – tạo ra mùi dừa khi bị nghiền nát.
Bầy đàn – có từ 100-10,000 con.

Share this
22 Aug 2016

Tác hại của kiến ba khoang

Sau bọ xít hút máu, bọ chét, bướm lạ thì loài

côn trùng kiến ba khoang đang là tâm điểm của dư luận khi liên tục tấn công hàng trăm người tại một chung cư ở TP HCM và người dân ở Thừa Thiên – Huế.

kien ba khoang

Kiến ba khoang khiến người dân bị viêm da tiếp xúc, gây mẩn ngứa, phòng rộp da, lở loét trên cơ thể. Đặc biệt là khi gãi thì vùng lở loét lại càng lan rộng khiến người dân lo lắng.

Loài côn trùng này có tên khoa học là Paederus fuscipes Curtis, thuộc họ Staphilinidae (cánh cụt), bộ Colleoptera (cánh cứng), lớp Insecta (côn trùng), ngành động vật.

Về mặt hình thái học của loại côn trùng này rất đặc biệt: thân mình thon, dài như hạt thóc (dài 1-1,2 cm, ngang 2-3 mm), nhiều màu sắc khác nhau, nhìn giống con kiến; do đó, người ta hay gọi với nhiều tên gọi khác nhau như kiến hoang, kiến kim, kiến lác, kiến gạo, cằm cặp, kiến nhốt, kiến cong…

Theo thông tin sơ bộ, trong cơ thể của kiến ba khoang có chứa độc tố Pederin (C24H43O9N).

CÔNG TY DIỆT CÔN TRÙNG – DỊCH VỤ DIỆT KIẾN GIÁ RẺ

Share this
diet tat ca cac loai con trung

© 2016 Diệt kiến tận gốc. All rights reserved.

Click Me