23 Aug

Loài kiến

Bạn có thể nghĩ chúng không quan trọng lắm. Thế nhưng kiến lại là những kẻ xây dựng tổ giỏi và các đàn kiến được hình thành phát triển bằng bất cứ giá nào – kể cả gây thiệt hại cho quý vị. Hãy tìm hiểu về các loại kiến gây hại chính có ở Việt Nam.

Kiến lửa
Solenopsis sppRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng
Kiến chúa dài 15mm.
Kiến thợ dài 3–6mm.
Đầu và thân có màu đồng hoặc nâu, bụng màu tối hơn.
Solenopsis có râu hai nhánh rất đặc biệt, thường nhìn thấy ở phía trước kiến cái sinh sản.
Vòng đời
Sau khi làm thành đàn trong tổ và giao phối, kiến chúa tìm một nơi thích hợp để đẻ trứng. Khi đó, nó có thể để đến 125 quả trứng vào cuối mùa xuân.
Ấu trùng nở sau 8 đến 10 ngày và giai đoạn nhộng kéo dài từ 9 đến 16 ngày.
Ấu trùng sống nhờ các chất tiết ra từ tuyến nước bọt của kiến chúa và cơ cánh bị rách cho đến khi những con kiến thợ đầu tiên ra đời. Sau khi lứa ấu trùng đầu tiên này trở thành kiến thợ, vai trò của kiến chúa là tiếp tục đẻ trứng – kiến chúa có thể đẻ đến 1500 trứng một ngày.
Kiến thợ tiếp tục chăm sóc ấu trùng, xây tổ và tìm thức ăn.
Kiến đực khỏe cũng được sinh ra trong mùa sinh sản
Tập quán
Thức ăn của kiến thợ bao gồm xác động vật chết, kể cả côn trùng, giun đất và động vật có xương sống.
Đặc tính bầy đàn – giao phối giữa Kiến chúa và kiến đực sinh sản xảy ra ở trên cánh vào giữa cho đến cuối mùa hè. Kiến đực chết sau khi giao phối.
Vị trí tổ – Vị trí của tổ có thể được xác định bởi sự xuất hiện của các đống đất cao 40cm hoặc cạnh các vật nằm trên mặt đất chẳng hạn như khúc gỗ.
Nếu bị gây hấn, chúng phản ứng rất dữ dội và có thể chích rất đau, tạo mụn mủ sau khoảng 48 giờ.
Loài kiến này là loài dịch hại chính trong nông nghiệp và ở các khu đô thị, phá hoại mùa màng và tấn công các khu dân cư cả trong nhà và ngoài trời.

Kiến đen hay Kiến vườn đen
Lasius nigerRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Kiến thợ dài 4–5mm.
Kiến chúa dài 15mm.
Có màu nâu đậm hoặc đen
Có 1 đốt ở thắt lưng (cuống nhỏ).
Không chích.
Vòng đời
Kiến chúa trú đông trong đất. Trứng được đẻ vào cuối mùa xuân. Ấu trùng nở sau 3-4 tuần.
Ấu trùng sống nhờ các chất tiết ra từ tuyến nước bọt của kiến chúa cho đến khi trưởng thành.
Kiến thợ tiếp tục chăm sóc ấu trùng, xây tổ và tìm thức ăn.
Kiến đực khỏe cũng được sinh ra trong mùa sinh sản.
Tập quán
Kiến thợ kiếm ăn theo các lối mòn được xác định rõ xung quanh các nguồn thức ăn. Thực phẩm ngọt là thức ăn chúng ưa thích nhưng các thức ăn có hàm lượng protein cao cũng bị chúng tấn công.
Đặc tính bầy đàn – giao phối giữa Kiến chúa và kiến đực xảy ra ở trên cánh vào giữa cho đến cuối mùa hè. Kiến đực chết sau khi giao phối.
Vị trí tổ – thường ở ngoài trời trong đất và dưới các tấm đá lát ở phía có nắng của các tòa nhà. Vị trí của tổ có thể được xác định bởi sự xuất hiện của bột đất mịn xung quanh cửa tổ.

Kiến Pharaoh
Monomorium pharaonisRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Workers 1.5–2mm long, yellow–brown with brown abdomen.
Males 3mm long, black and winged.
Queens 3.5–6mm long, dark red in colour with wings.
Black eyes. 2 small segments at the pedicel.
Vòng đời
Multi–queen colonies.
Swarming can take place at any time of the year.
Winged adults seldom fly so rarely seen. Wings are soon lost after mating.
Tập quán
Well–defined trails are laid which are often associated with heating systems. Feeds indoors on high protein foods — meat, fats, blood, dead insects, etc.
Swarming characteristics — new colonies are often formed through nests that have been disturbed e.g., as a result of insecticide spray treatments. Each queen produces up to 3500 eggs in its lifetime.
Nest locations — deep seated in cavities in heated buildings. Often found in hospitals. Associated with humid conditions. Colonies can range from a few dozen to 300,000 individuals.

Kiến Roger
Hypoponera punctatissimakien roger

Hình dạng

Reddish brown in colour.
Workers 2mm long.
1 large segment at the pedicel.
1st two segments of the abdomen are constricted.
Sting present.
Vòng đời
Little is known about the life cycle.
Tập quán
Workers forage randomly and lay no trails as live prey are hunted, especially springtails. Rarely seen outdoors.
Swarming characteristics — will swarm all year round. Winged adults are often found in electric fly killers.
Nest locations — damp residues and debris. Crevices around drains and behind broken wall tiles.

Kiến Caribe
Paratrechina pubensRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Kiến thợ dài từ 1.5 đến 3mm.
Màu vàng nâu hay đậm thành đỏ nâu.
Có 1 sọc xuất hiện sau khi chúng ăn như màng mỏng bảo vệ phần bụng.
Không chích.
Râu rất dài gấp 2 lần chiều rộng của đầu..
Vòng đời
Kiến thợ tìm kiếm thức ăn mọi nơi và thường ở những đường mòn.
Ấu trùng ăn tiết dịch từ tuyến nước bọt của kiến chúa cho đến khi chúng trờ thành các kiến thợ.
Kiến thợ tiếp tục chăm sóc ấu trùng, xây tổ và kiếm ăn.
Tập quán
Kiến thợ nhặt các thức ăn rắn và lỏng bao gồm các loài côn trùng khác, thịt, các loại hạt, trái cây và chất ngọt từ côn trùng hút mật..
Có xu hướng sống ở những khoảng trống, các vết nứt và khe hở có sẵn, nhưng cũng sống trong chỗ bụi bẩn, đóng bám vôi, thùng rác và nền nhà.
Chúng có thể đào xới 1 lượng đất đáng kể trong quá trình xây dựng tổ.
Chúng nổi tiếng bới sự di chuyển nhanh và thất thường.

Kiến Achentina
Linepithima humileRentokil Pest A-Z Artwork by www.thebarngallery.co.uk

Hình dạng

Kiến thợ dài khoảng 2mm.
Có màu nâu nhạt hoặc nâu đậm.
Không sống theo đàn
Cắn chứ không chích
Chu kỳ sống
Kiến thợ sinh sản vào mùa xuân và kéo dài đến tận mùa thu.
Kiến có cánh (Kiến vua và Kiến chúa có khả năng sinh sản), thường sinh sản vào đầu mùa xuân, trước kiến thợ, trưởng thành sau ba tháng và giao phối ngay sau đó.
Kiến Achentina giao phối trong tổ nên không thấy loài này xuất hiện theo đàn.
Tập quán
Kiến thợ thường đi kiếm thức ăn trong quãng đường xa nên không dễ để tìm đường đến tổ của chúng.
Chúng thích ăn đồ ngọt nhưng còn ăn cả các loài côn trùng còn sống hoặc đã chết, ngũ cốc và trái cây đã hư.
Kiến Achentina tấn công tất cả các loài kiến khác cùng sống trong một khu vực.

Kiến đường
Tetramorium caespitumkien duong

Hình dạng

Màu nâu đậm hoặc hơi đen.
Dài 1/8 inch.
6 chân.
2 lông gai trên lưng.
2 đốt trên cuống nhỏ.
Có các đường rãnh trên đầu và ngực.
Ngực không đều với 1 cặp lông gai
Râu 12 đốt với ngạnh 3 đốt.
Kiến cánh thường bị nhầm lẫn với mối.
Chu kỳ sống
Thường thấy vào mùa xuân và mùa hè.
Thường thấy xuất hiện tại bất cứ thời gian nào trong năm trong những kết cấu nóng.
Tập quán
Thức ăn – ăn hầu như mọi thứ mà con người ăn và ăn cả thức ăn của vật nuôi trong nhà.
Xuất hiện – thường thấy xâm nhập vào trong nhà để kiếm ăn vào ban đêm. Có thể chui qua đường ống và dây điện.
Tổ – trong các thảm cỏ hoặc dưới các phiến đá, gỗ hoặc các tấm. Các mô đất được hình thành dọc theo lối đi, tấm lót sàn và gần chân móng thành từng cụm. Thường thấy đàn kiến tập trung ở gần nơi có nước.

Kiến đục gỗ
Camponotus pennsylvanicuskien duc go

Hình dạng

Kiến thợ dài ¼ inch
Kiến chúa dài ½ inch
Thường có màu hơi đen nhưng cũng có thể là màu đen và đỏ.
Có 6 chân.
Chu kỳ sống
Bầy đàn thường xuất hiện vào mùa xuân.
Đàn Kiến đục gỗ có thể sống từ 3-6 năm.
Tập quán
Nơi sống – cả trên thân gỗ ẩm ướt và khô nhưng thích sống ở nơi ẩm ướt hơn chẳng hạn như gỗ được làm ướt bằng cách thẩm thấu nước.
Bên trong – thường đào các đường trong thân gỗ với hình dạng trơn tru.
Bên ngoài – thỉnh thoảng xuyên thủng các phần trên cây.
Xuất hiện – chủ yếu kiếm ăn vào ban đêm những cũng có thể là ban ngày khi vào đầu mùa xuân/mùa hè. Các dấu hiệu bao gồm: mùn cưa, thân gỗ ướt, hay có tiếng động lạ bên trong tường.
Thức ăn – thức ăn chủ yếu là dịch ngọt, cũng ăn nhựa cây, trái cây và xác côn trùng. Chúng không ăn gỗ. Trong nhà, chúng thường bị hấp dẫn bởi các chất ngọt, béo, dầu mỡ và thịt.
Tiếp xúc – rất hiếm khi tiếp xúc với người, nhưng nếu gặp, chúng sẽ cố gắng để lẩn trốn. Chúng không chích.

Kiến sả
Acanthomyops clavigerkien sa

Hình dạng
Hình ảnh kiến cây sả
Màu sắc thay đổi từ màu vàng nhạt đến màu đỏ thâm – vàng hay màu nâu nhạt.
Kiến thợ dài 3/16 inch
Đàn kiến dài 1/8 inch
Có một mấu cứng với cuống nhỏ
Có lông thẳng đứng, thưa thớt trên đầu, ngực và bụng.
Chu kỳ sống
Bầy đàn thường xuất hiện vào cuối mùa đông và mùa xuân, thường bị nhầm với mối.
Tập quán
Mùi – thường tạo ra một mùi sả dễ chịu khi bị bóp nát.
Làm tổ ở những nơi khác nhau như gỗ để ngoài trời, đồng cỏ, vườn, thảm cỏ, gần nền nhà. Các đàn kiến đôi khi còn thấy ở dưới các tấm bê tông, các tảng đá lớn hoặc các khúc gỗ mục nát. Chúng thường tạo ra các mô đất nhỏ xung quanh chỗ chúng ở.

Kiến ma
Tapinoma melanocephalumkien ma

Hình dạng

Đầu màu đen
Chân và bụng mờ hoặc trong mờ.
Dài 1/16 inch.
Chu kỳ sống
Đàn kiến sinh sản liên tục
Tập quán
Kiếm ăn – trong nhà: những đồ ăn ngọt và dầu mỡ; ngoài trời: những con côn trùng có các dịch ngọt.
Làm tổ – trong nhà: những nơi chật hẹp, những chỗ trống trên tường; ngoài trời: trong các chậu hoa, dưới các vật trên mặt đất, dưới vỏ cây xốp.
Vị trí tổ – ở những nơi có độ ẩm cao, có thể thấy trong nhà bếp và phòng tắm.
Đàn kiến có thể tập trung trong nhiều tổ khác nhau.

Kiến nhà mùi
Tapinoma sessilekien nha mui

Hình dạng

Có màu nâu hoặc đen.
Dài từ 1/16 đến 1/8 inch.
Râu có 12 đốt và không và không có ngạnh.
6 chân.
Chu kỳ sống
Thời gian để cho kiến trưởng thành phát triển là từ 34-38 ngày.
Thường sống trong vài năm.
Tập quán
Thức ăn – ăn hầu hết mọi thực phẩm trong nhà, đặc biệt là các món ngọt như kẹo và trái cây như dưa. Chúng ăn cả thức ăn của các con vật nuôi.
Vị trí làm tổ – thích những nơi ẩm ướt. Ở những nơi khô, nóng, chúng thường làm tổ trên các cây trồng trong nhà và thậm chí nắp bàn cầu.
Mùi – tạo ra mùi dừa khi bị nghiền nát.
Bầy đàn – có từ 100-10,000 con.

Share this